Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

CHÍNH TRỊ THỐNG SOÁI






CHÍNH TRỊ THỐNG SOÁI

      Bốn chữ khủng khiếp ấy như một bóng ma luôn theo đuổi tôi .

     Lần đầu tiên tôi nghe thấy nó là từ thuở còn đi học Tiểu học, từ miệng một bạn học cùng lớp, vào thời điểm sau đảo chính Nhật 9/3/1945. Vì anh ta là họ Hạ, dòng họ có người làm rất to trong Mặt trận Việt Minh nên anh ta có nhiều tài liệu “mật” về chính trị thời sự. Anh ta thì thầm vào tai tôi : “Bây giờ là thời chính trị thống soái.” Tôi hỏi, nghĩa là gì, thì anh ta trả lời "Nghĩa là chính trị quyết định mọi thứ. Không thứ gì thoát khỏi tác động của chính trị.” Tôi bèn hỏi: "Thú thật mình cũng chưa hiểu chính trị đúng ra là cái gì kia đấy." Anh ta cười : “Chính trị là mọi thứ. Mình với cậu cắp sách đi học cũng là chính trị. Bác bán bánh đa nướng kia cũng là chính trị. Hôm nọ Nhật đánh úp Pháp cũng là chính trị. Nghĩa là tất tần tật.
      Tôi vẫn băn khoăn. “Tất tần tật à ? Thế mặt trời mọc, mặt trời lặn, có phải chính trị không ?” Anh bạn gần như nổi cáu : “Đã bảo tất tần tật mà lại !”
     Tôi thầm nghĩ : “Vậy là mọi thứ. Nhưng vẫn khó hiểu thế nào ấy”.

                                                                                *
     Thế rồi đến một hôm, chú tôi bảo mấy người bạn cùng trò chuyện. “Thôi, chuyện chính trị mãi, chán lắm rồi. Kiếm cỗ bài chơi tổ tôm là vui nhất !
     Tôi bèn hỏi : “Chú vừa bảo các chú nói chuyện chính trị. Thế chính trị nghĩa là gì ạ ?”
     Chú tôi gắt : “Trẻ con, nghe chuyện người lớn làm gì !”
     Nhưng tôi vẫn cứ nằn nì : “Nhưng chú giảng cho cháu hiểu. Vì một bạn cháu ở trường bảo chính trị là tất tần tật. Có phải thế không, thưa chú ?”
      Thế là chú tôi cùng mấy ông bạn cười vang : “Trẻ con bây giờ cũng tò mò lắm thứ. Cháu cứ học cho giỏi, bài cho thuộc, làm toán pháp không sai, thế là chính trị rồi đấy. Thôi, đi chơi, để các chú đánh tổ tôm.

                                                                                 *
      Tôi chạy đi mà càng hoang mang. “Vậy ra chính trị là học bài cho thuộc, làm toán pháp không sai ? Chẳng lẽ lại như thế ? Cậu bạn học tôi nói đúng hay mấy chú ở đây nói đúng ? Chịu. Đến là rắc rối.”
      Mấy hôm sau, một bạn học khác của tôi mới giảng kỹ hơn. Bạn ấy nói : “Thời bây giờ chính trị là thống soái. Chúng mình cắp sách đến trường, đấy là chính trị. Có chính trị thấp mà có chính trị cao. Thí dụ cái ông họ Hạ kia bây giờ làm Chủ tịch Mặt trận Việt Minh tức là chính trị cao. Chính trị thấp thì chẳng có quyền gì, còn chính trị cao thì có tất. Chính trị cao nhất là Vua. Muốn gì được nấy. Ai cũng phải sợ. Bây giờ nhiều nước không còn Vua thì có Tổng thống, như nứơc Mỹ chẳng hạn… Tổng thống tức là Vua, mày hiểu chưa ?
       Bạn này nói nghe dễ hiểu hơn, nhưng tôi thầm nghĩ, mình còn bé, cứ làm chính trị thấp là chăm học, bao giờ lớn hãy hay… Nhưng sao lại nói “chính trị thống soái“?
      
                                                                                     *
       Băn khoăn mãi, cuối cùng mình hỏi ông nội : “Ông nội ơi, chính trị thống soái là gì ạ ?” Ông nội tôi cười, nhe hai hàm răng đen đều tăm tắp : “Là mọi thứ đều phải phục tùng chính trị.” – “Cháu vẫn chưa hiểu, phục tùng chính trị là thế nào ạ ?” Ông tôi vuốt râu : “Câu hỏi ấy thì ông cũng chịu.”
       Nghe ông tôi nói thế, tôi quyết định không tìm để hiểu về chính trị thống soái nữa, kể cả chính trị không thống soái.
        Nhưng rồi một hôm, cái miệng tôi lại ngứa ngáy. Chẳng là hôm ấy tôi thấy hai ông bảo nhau : “Ông lại cứ chính trị tôi !” Đợi một ông đi chỗ khác tôi bèn hỏi ông thứ hai : “Bác vừa bảo ông kia chính trị bác. Vậy chính trị bác là làm gì bác ạ ?”
       Ông ta cười vang : “Là nói cuội”. – “Nói cuội là gì ạ ?” – “Là nói dối chứ còn gì nữa.” – “Cháu vẫn chưa hiểu.” – “Bác cũng không hiểu. Quen miệng thì nói thế thôi, chứ chính bác cũng chẳng hiểu tại sao không bảo “nói dối” mà lại bảo “chính trị”. Nhưng thôi, hai bác nói đùa nhau ấy mà, cháu đi chơi đi. À hay đi học bài đi. Còn bài nào chưa cháo thì học cho thành cháo.”
 
 Nói xong bác ấy bỏ đi khiến tôi càng băn khoăn. Sao nói dối lại gọi là chính trị ?

                                                                                 *
        Vài tháng sau, khởi nghĩa, rồi Cụ Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Bây giờ Cụ Hồ là Vua. Làng tôi rất nhiều ma, tối nào cũng có người gặp ma và bị nó trêu chọc. Thế mà đột nhiên hết. Bao ma biến đâu mất sạch. Không thấy ai kể chuyện đêm qua đi qua chỗ vắng bị ma trêu chọc nữa. Thầy bói, thầy số cũng ngừng hoạt động. Mọi người bảo, bây giờ Cụ Hồ là Vua, Cụ không cho phép thì đố ma quỷ thần thánh nào còn dám ! Đêm phải đi qua bãi tha ma tôi không còn sợ nữa.
         Một hôm tôi hỏi cậu bạn học : “Đấy là chính trị phải không ?” 
         – “Chứ còn gì nữa !”

                                                                                   *
         Rồi năm tháng trôi qua, mấy chữ “chính trị thống soái vẫn ám ảnh tôi, cho đến khi cuộc đời đưa đẩy, ra khỏi quân đội tôi được (hay bị ?) điều về một tờ báo.
        Một bữa, xem xong bản thảo, ông Tổng biên tập nhận xét : “Nói chung là được, nhưng cậu đưa con số ta chết gần một trăm người là không nên, gạc đi.
        - Thưa anh, tại sao ạ ?
        - Đưa ra con số thương vong của ta là không có lợi.
        - Nhưng thưa anh, đấy là sự thật.
        - Là sự thật nhưng phải xem đưa ra có lợi hay không đã chứ. Không có lợi về chính trị.

        À, tôi hiểu rồi. Chính trị là thống soái. Cái gì tạo cho người đọc phấn khởi thì hãy đưa ra, còn không thì không nên đưa. Bây giờ thì tôi hiểu thế nào là đưa tin có lợi và thế nào là đưa tin không có lợi rồi. Về  “chính trị” !
        - Số báo trước, cậu đưa vào trang báo mấy câu rất không có lợi, làm cấp trên gọi mình lên xác cho một mẻ, rồi bắt phải in lại cái trang ấy, cậu nhớ chứ ? Hôm ấy mình cũng chủ quan, không xem lại lần cuối, trước khi đưa nhà in.
        - Tại tôi thấy sắp chữ xong, còn một khoảng trống nhỏ, không đủ đăng thứ gì, tôi lấy một câu trong “Cổ học Tinh hoa” ra nhét vào. Câu ấy là của Tăng Tử và tôi thấy rất chí lý.
        - Cậu đúng là ngoan cố. Mà có thể do cậu không có ý thức về chính trị. Câu ấy thế nào nhỉ ?
        - Thưa. “Người khen ta mà khen phải là bạn ta. Người chê ta mà chê phải là thầy ta. Còn kẻ nịnh hót ta chính là kẻ thù hại ta đó.”
         - Một câu nguy hiểm. Người đọc có thể nghĩ : “Ai mà nịnh hót nhỉ ?” Và Tuyên huấn có thể đặt thành vấn đề : “Báo đưa câu ấy ra là định nói ai ? Định ám chỉ cái gì ?” Cho nên làm biên tập cậu phải luôn luôn tự hỏi : cái này đưa ra có lợi hay không có lợi ? Tất nhiên là về mặt chính trị ấy. Cậu phải ghi nhớ điều này.
        - Vâng, thưa anh. Tôi hiểu ạ.

                                                                              *
          Từ ngày ấy, mỗi khi biên tập bài gì, của ai, tôi luôn nghĩ xem, điều tác giả bài báo nói ra này có lợi hay không có lợi. Sau một thời gian, mệt óc quá, tôi xin thôi, chuyển sang làm Trị sự của báo, vất vả hơn nhưng nhẹ cái óc.
          Thế rồi một hôm tôi dự buổi đọc duyệt kịch bản phim của một bạn trẻ. N.Đ.C. Khi nghe xong, một ông Thứ trưởng Bộ nhận xét : “Kịch bản của anh không có chính trị.” Chính đáp liền : “Không có cái gì không có chính trị. Bất cứ cái gì cũng có chính trị. Vấn đề chỉ là chính trị đúng hay chính trị sai thôi.”
        Câu trả lời ấy làm tôi về nhà cứ suy nghĩ mãi. Chẳng lẽ lại như thế ? Chẳng lẽ không có cái gì ngoài chính trị ư ? Tôi lại nhớ hồi đi học có bạn bảo : “Chính trị là tất tần tật !” Khó hiểu quá và cũng khó sống quá.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

VỀ HAI CHỮ 'TỰ DO"



VỀ HAI CHỮ “TỰ DO”
            Anh Cả tôi có lần nói với tôi : “Trong tất cả những câu Hồ Chí Minh nói và được công bố trên báo chí, anh thích câu “KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO” và hình như cũng chỉ câu ấy.” 
           
           Hôm ấy tôi có nhắc anh rằng mấy chữ “độc lập, tự do” của ông Hồ nói không phải cho từng Con Người mà cho dân tộc, nghĩa là cho  đám đông”, cho “bầy đàn”... Cả mấy chữ ”dân tộc”, rồi “muôn đời” vv… đều là những từ tôi ghét nhất vì thấy chúng toàn là sản phẩm của những ảo tưởng viển vông. “ĐẤU TRANH NAY LÀ TRẬN CUỐI CÙNG” chẳng hạn. Rồi mấy chữ “MUÔN ĐỜI” trong bài thơ của Petophi : “Vì tình yêu lồng lộng/ Ta dâng hiến đời ta/ Vì tự do muôn đời/ Ta hy sinh tình ái…Hai chữ “muôn đời” ở đây cũng thể hiện một cách suy nghĩ “đầy ảo tưởng”. Nhà văn Pháp MONTAIGNE đã viết, Xã hội  loài người mãi mãi là một khu vườn không hoàn chỉnh (nguyên văn  JARDIN INPARFAIT) !
 
             Đấu tranh nay là trận cuối cùng”. Cụ nhớ câu ấy chứ ?
             - Nhớ quđi áy chứ ..Ngay Engels, khi về già, cũng đã nói  “Hồi thảo bản TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN, MÁC và tôi còn trẻ,còn nhiều ảo tưởng"… và  "chúng tôi không hề cho giải pháp nào là "cuối cùng" cả !
            Hai chữ  “TỰ DO” tuy thế chứ có thể giải nghĩa theo nhiều cách. Ông Mác bảo “Tự do nghĩa là nhận thức được cái tất yếu.” Tôi cứ nghĩ mãi về câu này mà không biết hiểu và lý giải nó ra sao.
          Một lần tôi hỏi một bạn thân, cùng học từ thời Trung Học, rồi cùng đi bộ đội và sau khi chuyển ngành, thế naò cả hai lại đều về Bộ Văn hóa, hôm ấy mới tình cờ gặp lại :
            “ Cậu bảo “TỰ DO”  nghĩa    gì ? Có phải    “muốn làm gì  thì làm không ?
            Anh bạn cười hóm hỉnh :
- Mình thì cho “TỰ DO” nghĩa là muốn không làm cái đấy cũng vẫn được.- Rồi thấy tôi có vẻ ngơ ngác, anh nói thêm. -  Có những thứ người ta ép phải làm, nhưng “tự do” tức là không làm thứ ấy cũng vẫn được.
 - Thí dụ ?
 - Thí dụ, phải thủy chung với vợ hoặc chồng, kể cả khi vợ hay chồng đã qua đời…
 - Chỉ kể ra thí dụ ấy thì chưa đủ. Vì nguyên tắc phải thủy chung kể cả khi vợ hoặc chồng không còn sống trên đời là quy tắc của thời cụ Khổng, cụ Manh. “Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng…” Đàn bà góa phải giữ “tiết” với chồng…Bây giờ mà bắt phụ nữ phải “giữ tiết” như thế thì lại là vô nhân  đạo… Thậm chí cả ngọai tình cũng được phép. Nghe tin Hàn Quốc vừa rồi bỏ điều luật cấm ngoại tình đấy !
 Hai lão gichúng tôi bàn và tranh luận mãi mà vẫn không ra.
 Thì ra nghĩa của hai chữ TỰ DO không đơn giản !
                         *
Tôi nhớ trong tác phẩm THẾ GIƠI HÁN HÓA MỚI của Leon VANDERMEERCH (Bản dịch của NXB KH Xã Hội, Hà Nội – 1992), tác giả kể  rằng trong phong trào “Canh Tân” ở Đông Á mà Nhật là nước đi đầu, các học giả tiền tiến Nhật đã tìm cách “học” Phương Tây, và họ thấy việc đầu tiên là phải “dịch” những từ ngữ khoa học, kỹ thuật… (Vì tiếng Nhật sử dụng chữ Hán nên các học giả Trung Hoa dã dùng luôn cách dịch của người Nhật để sử dụng trong ngôn ngữ Trung Hoa. Sau đấy các học giả Việt Nam  lại bắt chước, dùng luôn các thuật ngữ ấy.) Việc dịch này gặp khó khăn rất lớn vì ở xã hội Phương Tây cách tổ chức khác xa ở xã hội Phương Đông
 Tác giả VANDERMEERCH nhận định : “Trong toàn bộ vốn từ vựng ấy,  từ FREEDOM tiếng Anh (hay LIBERTE tiếng Pháp) là ý niệm khó tìm cách diễn tả tương đương sang tiếng Nhật (cũng là  chữ Hán) nhất… Phải có môt truyền thống không phải nghi lễ chủ nghĩa, mà là pháp chế chủ nghĩa thì mới có thể hiểu và cung cấp cho từ ấy toàn bộ nội dung ý nghĩa cua nó…
 Thoạt đầu, người ta dịch nó là TỰ CHỦ (Zizhu主)nhưng rồi thấy “tự chủ” trong chữ Hán có nghĩa xấu, thí dụ người ta nói một cô con dâu “tự chủ ” có nghĩa cô con dâu ấy bất chấp chồng, mẹ chồng, làm mọi thứ hoàn toàn theo ý thích riêng . Phải sau một thời gian, thấy không thích hợp người ta mới thay bằng TỰ DO (tiếng Hoa là ZIYOU (自由) có nghĩa “tự bản thân”, gần với nghĩa của từ FREEDOM (và LIBERTE) hơn. Còn hai chữ “tự chủ”, từ bấy giờ chỉ dùng kèm hai chữ “độc lập” để diễn tả một thể chế chính trị (Independence).
 Nguyên nhân nói trên thật ra chỉ là hình thức chữ nghĩa, còn bản thân từ tiếng Anh FREEDOM (và từ tiếng Pháp LIBERTE) trong quãng thời gian ấy (thế kỷ 18-19) cũng thay đổi. Đấy là thời gian trong và sau Đại Cách mạng Pháp 1789, không chỉ từ LIBERTE mà cả nhiều từ khác cũng thay đổi ý nghĩa của chúng. Thí dụ từ MONSIEUR, trước Cách mạng 1789 có nghĩa là “ông chủ của tôi” (MON và SIEUR), để đầy tớ dùng gọi ông chủ, hoặc nông dân gọi Lãnh chúa Chủ đất, nhưng sau Cách mạng 1789 đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa, và chỉ có nghĩa “ông” nói chung. Thậm chí bị cáo khi ra hầu tòa cũng được quan tòa gọi là “Monsieur” chứ không dùng cách xưng hô “kỳ thị” kiểu thời trước Cách mạng 1789. 
 Cũng chính vì thế nên chàng trai Tất Thành, khi lần đầu đặt chân lên đất Pháp, vào một hiệu giải khát ở Hải cảng Marseille, được nhân viên phục vụ đáp “Oui, Monsieur !” đã rất ngạc nhiên “mình được gọi là MONSIEUR !”  (dẫn theo cuốn của Trần Dân Tiên).
Tóm lại nội dung, ý nghĩa hai chữ TỰ DO, khái niệm về nó hiện nay là “được theo ý thích, nguyện vọng riêng và không ai, kể cả chính quyền được phép can thiệp hoặc tước đoạt."
TƯ DO bây giờ có nghĩa “được sống theo ý mình”, không ai có quyền bắt mình không được là mình nữa, chỉ cấn anh không vi phạm luật pháp (tất nhiên luật pháp của một chính thể dân chủ, chứ không phải chính thể toàn trị). 

NIETZSCHE nói thế nào về "TỰ DO" :

"Kẻ có tinh thần tự do là kẻ suy tưởng khác hẳn với những điều mọi người chờ ở hắn căn cứ vào cội rễ, vào liên hệ, vào địa vị, vào việc làm của hắn vã các lý tưởng tổng trị của thời đại".

Tinh thần tự do là tinh thần đặc biệt độc đáo, trong khi số đông chỉ làm nên tinh thần nô lệ. Số đông này chịu khuất phục mọi ảnh hưởng xã hội. Tinh thần nô lệ bị cuốn vào thời đại, hoàn cành, phong trào... dựa vào thói quen, chứ không do chọn lựa tự do. 

TINH THẦN TỰ DO phải thoát khỏi mọi ảnh hưởng của xã hội, của chế độ, của nhà thờ, của quan niệm quần chúng và cảm thấy rõ tính nô lệ ẩn nấp sau các thứ tiền tài, danh vọng, của công việc tư. 

Tinh thần tự do chỉ nghe theo ý thức của riêng mình khi ý thức đó bảo : "Hãy là chính mình hơn nữa, hãy trở nên chính mi". Tinh thần đó vượt lên trên mọi chật hẹp, nhỏ nhoi, riêng lẻ.

CHÚ THICH. Tôi chép lại mấy câu này nhưng không nhớ bản dịch của ai. 

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2015

HK : NHÀ IN QUỐC GIA



BƯỚC NGOẶT LỚN NHẤT
          Trong 82 năm cuộc đời, tôi đã trải qua bao nhiêu bước ngoặt ! Đấy cũng là số phận của rất nhiều người cùng lứa tuổi…
                                                                      *
           Tôi sinh năm 1933, đúng vào năm Hitler lên cầm quyền ! 
          Sáu năm sau nổ ra Đại chiến Thế giới II, rồi năm sau nữa 1940 quân đội Nhật Hoàng tiến vào Đông Dương. 
          Đến năm tôi 12 tuổi thì xảy ra Đảo chính Nhật 9/3, rồi Cách mạng Tháng Tám 19/8/45, và năm sau thì bùng nổ cuộc chiến tranh với Pháp 19/12, và bắt đầu cuộc Kháng chiến kéo dài gần tám năm cho đến 1954, kết thúc nhờ Chiến thắng Điện Biên Phủ, rồi Hiệp nghị Genève được ký kết …Chính phủ ta tiếp quản miền Bắc. Ngần ấy sự kiện đều là những bước ngoặt đầu đời của tôi.           Và sau thời điểm này cuộc đời tôi trải qua một bước ngoặt quan trọng, cũng là BƯỚC NGOẶT lớn nhất và quan trọng nhất.
                                                                    *
          Chẳng là năm 1949, vừa tròn 16 tuổi, tôi nhập ngũ, đến đầu năm 1955, 22 tuổi, tôi được “chuyển ngành”, ra khỏi quân đội, bắt đầu bước vào lĩnh vực “dân sự” mà lại là Văn hóa Nghệ thuật. Đây chính là bước ngoặt lớn nhất…và cần nói luôn, tôi đã gặp may mắn được hưởng bước ngoặt này. 
                                                                     *
          Điều may mắn ấy tôi không ngờ lại có thể xảy ra. 
         Trong quân đội, tôi là lính trinh sát (thuộc Ban QUÂN BÁO, còn gọi là Ban 2). Hầu như đại đa số bạn bè đồng đội khi chuyển ngành, đều sang ngành an ninh. Một số ít hơn sang các ngành kinh tế tài chính. Sang lĩnh vực văn học nghệ thuật hình như toàn đơn vị chỉ có mỗi mình tôi. Chính tôi cũng không hiểu tại sao tôi lại được may mắn thế. Tôi đoán đây có thể do mấy anh trong các cấp chỉ huy của tôi can thiệp và đề xuất. Rất có thể là anh Lê Vinh Quốc, mà cũng có thể là anh Vương Thừa Vũ, vì tôi có thời gian làm thư ký cho anh. Mà cũng có thể là anh Kim Hùng, Trưởng Ban Quân báo Đại đoàn 308, thủ trưởng trực tiếp của tôi, người đã đặt “biệt danh” cho tôi là “Tý Phòng” vì tôi ít tuổi nhất đơn vị và vóc người nhỏ bé… Rất có thể là anh ấy, vì anh biết lý lịch tôi, con một nhà giáo từng có viết văn đôi chút, và tôi rất giỏi tiếng Pháp…luôn được anh giao việc hỏi cung tù binh biết tiếng Pháp và rất hay đưa tôi đọc những cuốn sách của Nhà Xuất bản Ngoại văn Liên Xô in bằng tiếng Php…
                                                                        *
          Những ngày đầu tiên nhận công việc trong ngành văn hóa này, tôi bàng hoàng và sung sướng vô bờ. Đang sống gò bó trong quân ngũ, sang đây tôi như được tắm trong một không khí thoải mái không ngờ. Rồi càng sống càng làm việc, tôi càng thấy sao mình may mắn đến thế !  Nếu như trong quân đội, người ta hết sức coi trọng chức tước, cấp bậc thì ở đây, hầu như không ai quan tâm đến cấp bậc, chức tước của ai. Tôi được mọi người, kể cả những người đã có tuổi và có danh tiếng, đối xử hoàn toàn bình đẳng, và tôi được tự do sáng tạo, gần như thích gì làm nấy. Sau đấy người ta “đánh giá” tôi qua những sáng tạo ấy. Tuy về sau, các quan chức lãnh đạo chính trị có “vẽ ra” những “danh hiệu” nào đấy để “phân biệt”, nhưng may thay, từ lâu tôi đã hoàn toàn không quan tâm gì đến chúng.

                                                                        *
          Còn nhớ năm ấy các “Hội” đề xuất danh sách những nghệ sĩ đáng được hưởng danh hiệu. Nhiều người đề xuất tôi là Nghệ sĩ Nhân dân, nhưng cơ sở Đảng không vui (tôi là người ngoài Đảng) và ông Tổng thư ký (lúc ấy là Dương Ngọc Đức) đưa ra ý kiến trong cuộc họp, đại khái như sau : “Đồng chí Vũ Đinh Phòng, nếu phong Nghệ sĩ Nhân dân thì có điều lấn cấn. Đồng chí ấy hoạt động không chỉ trong lĩnh vực biểu diễn sân khấu mà trong cả nhiều lĩnh vực khác, như lý luận phê bình, biên kịch, thậm chí cả dịch thuật. Cho nên chúng ta tạm để lại trường hợp đồng chí Phòng. Tôi sẽ đề nghị nhà nước đưa ra thêm danh hiệu “Nhà hoạt động Sân khấu” theo cách của Liên Xô (đúng là  Liên Xô có chức  danh này), thì đồng chí Phòng xứng đáng là “Nhà hoạt dộng Sân khấu Nhân dân !”. Tôi thừa biết nhận định ấy nhằm loại tôi ra khỏi danh hiệu này nọ, nhưng tôi đâu cần. Tôi chỉ thầm nghĩ “Danh hão ấy mà. Khối đứa có danh to đùng nhưng bị khinh như mẻ và bản thân chúng cũng tự khinh chúng. Tao cứ dàn dựng, sáng tác… và giá trị sáng tạo của tao sẽ có nhiều người đánh giá…ít nhất thì các diễn viên, thế là đủ. Chúng bay biết thế, cố dìm nhưng sao nổi !”
          Còn nhớ công bố chính thức danh sách các nghệ sĩ được phong danh hiệu hôm trước thì sáng hôm sau, ông Cù Huy Cận gặp tôi trên sân số nhà 51 Trần Hưng Đạo, nói đùa : “Ông thì cần gì được phong ! Ông tự phong ông rồi còn gì ! Thì ông là Phong Huyền đấy thôi !”. Đối với tôi chuyện “phong” là chuyện tào lao., cái chính là tôi được sống theo ý mình…được làm những việc mình thích.
                                                                      *
          Tôi ở ngành văn hóa cho đến lúc nghỉ hưu năm 1980 (khi tôi chưa đủ 60 tuổi, nhưng vẫn đủ tiêu chuẩn xét cho “nghỉ” vì tôi được tính cả thời gian tại ngũ.)

I
NHÀ IN QUỐC GIA
          Nơi tôi nhận việc đầu tiên sau khi chuyển ngành là Phòng Xuất bản, thuộc NHÀ IN QUỐC GIA (NIQG), nằm trong Bộ Tuyên truyền (nghe nói tiền thân là NHA TUYÊN TRUYỀN VĂN NGHỆ nay được “nâng cấp” lên thành Bộ và Bộ trưởng lúc ấy là ông Tố Hữu, trước đấy, trong kháng chiến, là Giám đốc Nha Tuyên truyền - Văn nghệ.) Về sau Bộ Tuyên truyền được đổi tên thành Bộ Văn hóa (và Bộ trưởng slà ông Hoàng Minh Giám).
          Tên “Phòng Xuất bản” chỉ là gọi tắt. Tên đầy đủ là “Phòng Quản lý Xuất bản” vì nhiệm vụ chính là khâu “quản lý” chứ không phải biên tập. Nơi đây chưa phải công việc sáng tạo với ý nghĩa đầy đủ của từ này, nhưng nó cũng chính là nơi tôi tiếp cận dần và “tập sự” cho hoạt động sáng tạo của tôi sau này.         
          Trước tiên tôi được phát mấy mét gabardin để may một bộ “đại cán” (kiểu trang phục của cán bộ Tầu, lúc ấy được gọi là kiểu Tôn Trung Sơn) thay cho bộ quân phục xanh mầu cỏ úa tôi vẫn mặc nhưng lúc ấy đã bạc màu. Có nghĩa từ nay tôi không còn là “lính” nữa mà thành “cán bộ”, hoặc đúng hơn là được trở về làm “dân” ! Điều sung sướng nhất là về đây tôi được tiếp xúc với bao nhiêu nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, họa sĩ… gọi chung là “văn nghệ sĩ” nổi tiếng mà trước đấy tôi chỉ được nghe danh và biết họ qua tác phẩm, như Lưu Trọng Lư, Lưu Hữu Phước, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính…nhất là tôi được quen biết và làm việc gần gụi với Hoài Thanh, nhà phê bình văn học mà tôi hết sức khâm phục và yêu mến khi đọc “THI NHÂN VIỆT NAM” của ông. Bên cạnh đấy tôi cũng được làm quen với một loạt văn nghệ sĩ trẻ mới xuất hiện và bắt đầu cuộc đời sáng tạo vào thời gian sau ngày tiếp quản Miền Bắc, nhà văn như Phùng Quán, Đào Vũ…các họa sĩ và nhạc sĩ tôi không thể kể tên hết…
          Tôi có cảm giác như mình từ nơi tối om bước ra ánh sáng, từ nơi “gò bó” ra  nơi thoải mái, tự do. Từ nơi người ta phân biệt nhau theo chức tước ra nơi mọi người tôn trọng nhau, coi nhau hoàn toàn bình đẳng…
          NHÀ IN QUỐC GIA là cơ quan chịu trách nhiệm quản lý việc xuất bản (bao gồm cả ấn loát, phát hành sách báo…) trên toàn quốc, nhưng mỗi anh em chúng tôi lại được giao một “khu vực”, chúng tôi gọi là “khối” và khu vực tôi được giao, may mắn làm sao, lại là “khối văn nghệ”. Khi nhận bản thảo từ Nhà Xuất bản Văn Nghệ (sau này là Nhà xuất bản VĂN HỌC), tôi có nhiệm vụ rà soát lại bản thảo thật kỹ lưỡng, sửa các lỗi đánh máy, và nếu thấy cần thay đổi sửa chữa đôi chỗ đụng đến nội dung, thì phải được sự thỏa thuận của Ban Biên tập các Nhà xuất bản, thường Nhà xuất bản giới thiệu tác giả để tôi trực tiếp làm việc.
          Tôi được phát một chiếc xe đạp để đi lại và một chiếc giường cá nhân trong một góc của gian Phòng họp rộng thênh thang trên tầng hai. 
                                                                        *
          Cơ quan NHÀ IN QUỐC GIA đóng trú sở trên Phố Tràng Tiền, ngay giữa phố, số nhà 44. Tràng Tiền là phố trung tâm và tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội. Cơ quan đóng trong một tòa nhà đồ sộ (từ trước tôi đã biết đấy là Nhà In TAUPIN, chuyên in sách có giá trị mỹ thuật cao, hiện nay tòa nhà ấy là trú sở của Tổng Công ty Phát hành Sách), ngay cạnh Rạp chiếu phim “CÔNG NHÂN” (trước kia tên là Rạp EDEN). Phố Tràng Tiền là phố đẹp nhất của Thành phố Hà Nội, một đầu là NHÀ HÁT LỚN, đầu kia liền với HỒ HOÀN KIẾM, cách Tòa Thị Chính (trụ sở Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội), cách Bắc Bộ Phủ, và cách Khách sạn METROPOLE chỉ vài trăm mét. Có lẽ khó có địa điểm nào “trung tâm” và thuận tiện hơn cho việc giao tiếp với các cơ quan. Nơi này gần như là “trung tâm” của cuộc sống náo nhiệt về văn hóa của Hà Nội.
                                                                         *
          Sáng sớm, nghe tiếng kẻng. toàn cơ quan (lúc ấy đại đa số nhân viên còn trẻ, chưa lập gia đình) vùng dạy, chạy ra phố (giờ này hầu như chưa có người đi lại), xếp thành hàng ngũ rồi chạy ra bờ đê cạnh Bảo tàng Lịch Sử, tập các động tác thể dục. Trong cơ quan, vì tôi là “lính cũ” duy nhất và cũng do tính ưa hoạt động và được anh em tín nhiệm nên tôi thường chủ động chạy đầu, dắt dẫn anh chị em… Tập thể dục xong, mọi người giải tán để đi ăn sáng…ăn gì tùy ý mỗi người. Rồi bắt đầu vào cơ quan làm việc. Công việc của chúng tôi, nhân viên Phòng Xuất bản, khá tự do. Trưởng Phòng là một người đứng tuổi và rất trí thức (nghe nói trước Chiến tranh ông là chủ một Nhà xuất bản tư nhân mới xuất hiện nhưng đã có uy tín), có trình độ hiểu biết rất rộng, có thể nói là “uyên bác”, đặc biệt rất am hiểu các vấn đề văn học nghệ thuật, nhất là am hiểu và yêu mến mỹ thuật. Và hiểu biết cả về chính trị nữa, tất nhiên. Tên ông là NGUYỄN HỮU ĐỈNH. Mới qua tiếp xúc, ông đã gần như đánh giá được khả năng từng nhân viên, và chẳng hiểu tại sao ông lại giao cho tôi mảng văn nghệ. Về đây tôi phát huy được khá nhiều hiểu biết của tôi trong lĩnh vực sách báo. Vì tôi xuất thân trong một gia đình trí thức “mới” (Tây học) và thuở nhỏ từng đọc rát nhiều, lại có trí nhớ tốt nên cán bộ các phòng bạn như Phòng phát hành, Phòng tài vụ… mỗi khi cần biết về một cuốn sách nào xuất bản trước 1945 đều hỏi tôi. Tôi thường trả lời chính xác cuốn ấy của Nhà xuất bản nào, tác giả là ai, in năm nào, thậm chí bìa mầu gì và giá bán là bao nhiêu…Ít khi tôi không trả lời dược. Vì thế tôi nhanh chóng được anh chị em trong cơ quan nể trọng, gọi tôi là cuốn TỪ ĐIỂN SÁCH BÁO.
                                                                                *
          Bắt đầu giờ làm việc buổi sáng, tôi quàng chiếc túi vải đựng bản thảo vào ghi-dông, đạp xe đến nhà xuất bản hoặc nhà riêng tác giả để trao đổi về bản thảo, đề xuất những chỗ cần sửa chữa. Công việc này tạo điều kiện cho tôi tiếp xúc với các nhà văn. Vài kỷ niệm nhỏ là những buổi tiếp xúc và làm việc với các ông Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Phùng Quán…Những cuộc tiếp xúc ấy, dúng ra để làm việc, nhưng trên thực tế thường biến thành những cuộc trò chuyện xung quanh bản thảo, quá trình sáng tác và cả những chuyện khác liên quan đến cuộc sống của họ, thậm chí cả những tâm sự mang tính riêng tư…
          Để lại ấn tượng sâu sắc nhất là những buổi tối đầu tuần ở Nhà In LÊ VĂN TÂN (Phố Hàng Bông), nơi lúc ấy in tuần báo VĂN NGHỆ. Bấy giờ chưa tiến hành “cải tạo công thương nghiệp” nên không khí rất vui. Sau này, khi “cải tạo”, Nhà in Lê Văn Tân bị “công tư hợp doanh”, rồi đổi tên thành Nhà in Thống Nhất.
           Đấy là những buổi tối in số báo mới. Gần như tất cả Tòa soạn báo Văn Nghệ tập trung ngoài phòng khách, trong lúc trong nhà, máy in rầm rầm chạy…Mọi người trò chuyện vui vẻ và nóng lòng chờ số báo đầu tiên “ra lò”. Rồi đến lúc ông chủ Nhà in bước ra báo tin : “Mời các vị xem bản in đầu tiên…” Mọi người ngừng trò chuyện, quay nhìn ông, rồi một người đỡ lấy tờ báo còn hơi ấm và thơm mùi mực. Thường có mặt ở Nhà in trong những buổi tối ấy đông đủ thành viên của Tòa soạn. Tôi nhớ lúc ấy Thư ký Tòa soạn là nhà thơ Xuân Diệu. Lúc đỡ lấy bản in mới ra lò, ông như thể thành kính đưa lên mũi ngửi : “Thơm nức mùi mực, các vị ạ !” Thú thật là lúc ấy tôi hay có cảm giac ông đang “đóng kịch”. Thành viên Tòa soạn báo VĂN NGHỆ còn có các ông Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Bính, hai người có vẻ lớn tuổi nhất. Riêng ông Đang thì thời xưa đã là bạn của cha tôi và tôi thường gọi là “chú Đang”. Có Lê Đạt, láu táu và lúc nào cũng cười, tôi quen anh từ trước Chiến tranh, vì cùng học Trường Bưởi, anh học trên tôi bốn năm và anh nhận ra tôi ngay trong buổi lần đầu tiên tôi đến làm việc với Tuần Báo VĂN NGHỆ. Ngoài ra, Tòa soạn còn  những ai nữa, đến nay đã quá lâu, tôi không nhớ.
          Mấy sự kiện xảy ra với tôi trong hai năm làm việc ở Phòng Quản lý Xuất bản để lại ấn tượng sâu đậm nhất là buổi làm việc với ông Tô Hoài để chuẩn bị bản thảo rồi đưa in tập truyện ngắn “TRUYỆN TÂY BẮC”, Lúc ấy ông là Giám đốc Nhà Xuất bản Văn học nên tôi hay gặp trao đổi. Lần nào làm việc với ông cũng hết sức thú vị. Dần dần hai anh em quý mến nhau và mỗi khi đi thực tế hay công tác địa phương ông thưởng rủ tôi cùng đi, dọc đường hai anh em trò huyện rất hợp ý nhau Rồi cuộc tiếp xúc lần dầu với Phùng Quán, sau này thành tình bạn thân thiết cho đến khi anh qua đời. Cuộc làm việc với ông Trường Chinh vào dịp tái bản cuốn KHÁNG CHIẾN NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI. Ông tỏ ra là người tỷ mỷ và rất coi trọng sách báo cũng như chính tả. Thí dông quy định cách in tên người. Mỗi từ trong ấy đều phải in chữ hoa. Thí dụ Ngyễn Đình Thi, chứ không phải Nguyến đình Thi, hoặc Nguyễn-đình Thi...
           Đặc biệt là việc chuẩn bị bản thảo cho cuốn “NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG CỦA HỒ CHỦ TỊCH”, cuốn sách đã tạo cảm hứng cho tôi hai mươi năm sau viết kịch bản KỂ CHUYỆN BÁC HỒ (dã đổi tên thành “Người công dân số Một”)… 

                                                         II

 
             Tôi công tác được chừng hai năm thì có chủ trương sắp xếp lại bộ máy. NHÀ IN QUỐC GIA bị giải thể để lập ra CỤC XUẤT BẢN. Cục này tiếp nhận toàn bộ các khâu quản lý xuất bản, ấn loát và phát hành sách báo. Riêng lĩnh vực "phát hành" báo thì được tách ra, chuyển sang và nhập vào hệ thống Bưu điện. 
           Trước khi "giải thể", Nhà In Quốc Gia cho phép những cán bộ nhân viên đã có bằng tốt nghiệp bậc phổ thông được đi học một trong mấy trường Đại học : Bách Khoa, Sư phạm, Tổng Hợp, Y-Dược... Tôi còn đang phân vân chưa biết nên chọn đâu, thì được tin sắp thành lập Trường Ngoại Ngữ, dạy hai thứ tiếng lúc ấy đang rất cần : Trung và Nga. Tôi bèn xin được theo học trường này, khoa Tiếng Nga. Tôi vốn thích ngoại ngữ từ nhỏ. Cha tôi là giáo viên (ông tốt nghiệp Trường Sư phạm của Pháp - Ecole Normale) nên tôi được tiếp xúc vối tiếng Pháp từ năm chưa cắp sách vào học Trường Tiểu học Đáp Cầu, và đã rất thích đọc văn học Pháp mà tôi yêu mến và say mê, như Contes de Lundi, Lettres de Mon Moulin của A. Daudet... Rồi ngay từ năm 10 tuổi tôi đã mầy mò tự học tiếng Anh, Đức, Nhật (lúc ấy Nhật đã "vào" Đông Dương và quân đội Nhật đóng rất nhiều tại quê tôi). Sau khi ta tiếp quản Hà Nội, giao lưu với Liên Xô được tăng cường, nên tôi mơ ước được biết thêm tiếng Nga, và đã bắt đầu tự học nó, hy vọng được "đi đây đi đó" trong các nước XHCN Đông Âu. Tôi được cơ quan cử đi học Trường Ngoại Ngữ nói trên, nhưng vẫn hưởng lương ở cơ quan cũ (lúc này là Bộ Văn hóa) để sau khi tốt nghiệp sẽ về Bộ và chịu sự điều động của Bộ.