Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 22 tháng 3, 2016

CHIA SẺ BÀI CỦA HỒ HẢI







NÓI VỚI PHỤ HUYNH DU HỌC SINH 

Model United Nations hằng năm của những cháu 1% thế giới tham gia với Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc hằng năm để đưa ra mô hình kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường, giáo dục, etc cho toàn cầu. Các bạn trẻ này mỗi năm họp với LHQ 1 lần khoảng 1 tuần đến 10 ngày. Trường đại học lo chi phí ăn ở khách sạn 5 sao, vé máy bay hạng VIP mỗi trẻ mất khoảng $1000/ngày.

Hầu như mọi vấn đề quy hoạch toàn cầu của LHQ là từ sáng kiến của những bạn trẻ đến từ các trường đại học trên toàn thế giới vào tháng 4 hằng năm. Họ là những cái đầu tinh túy của nhân loại. Bất kỳ ai trong họ như cái computer, nhấn nút là tư duy cho kế hoạch toàn cầu như một nhà thiết kế kinh khủng.


Năm ngoái tôi có
một bài viết cho các du học sinh Việt sau vụ cháu Hồ Quang Phương bị cảnh sát San Diego đánh. Mấy hôm nay trên báo người Việt ở Mỹ và các bloggers loan tin cháu Nguyễn Mạnh Cường 19 tuổi thắt cổ tự vẫn trong căn nhà thuê ở cùng với người dì của cháu. Làm cha mẹ, ai không đau xót khi nuôi con đến tuổi sung sức nhất lại bỏ mình ra đi vì một chút nông nổi, bốc đồng, thiếu sức chịu đựng vì người lớn đã sai lầm khi trao con mình những đòi hỏi quá sức chịu đựng của chúng. Như vậy, những người làm cha, làm mẹ cần phải hiểu biết gì trước khi quyết định cho con, em mình đi du học? Là một phụ huynh đã từng cho con đi du học khi còn tuổi 14, tôi xin có mấy lời đến với các phụ huynh sẽ và đang có ước mộng thả con mình vào một vùng đất mới, nền văn hóa mới với một ngôn ngữ mới và những kỳ vọng với con mình.

Con có nhiệm vụ đi du học theo kỳ vọng của cha mẹ, vậy cha mẹ chuẩn bị cho con những gì? Theo kinh nghiệm của tôi, cha mẹ cần chuẩn bị tinh thần cho trẻ từ rất sớm, để hun đúc tinh thần cho trẻ. Trẻ phải thấy việc đi du học là một việc yêu thích thực sự, chứ không phải là một trách nhiệm với gia đình và là sức ép theo kỳ vọng của gia đình, bạn bè và người thân. Những chuẩn bị phải bắt đầu từ khi còn cấp lớp học tiểu học gồm có:

Học lực: Học lực của trẻ du học không thể là đứa trẻ học hành làng nhàng và vì không thể nuôi dạy tốt ở quê nhà, nhưng vì muốn con có trách nhiệm với bản thân rồi cha mẹ lại quẳng cháu đi du học được. Các phụ huynh học sinh hãy cứ nghĩ một cách đơn giản rằng, ngay cả khi các cháu học với ngôn ngữ mẹ đẻ ở quê nhà còn không thể giỏi thì làm sao trẻ có thể học giỏi bằng ngôn ngữ của người khác? Cho nên, không thể kỳ vọng một trẻ học với mức trung bình ở quê nhà có thể giữ được mức trung bình ở xứ người. Một trẻ muốn học giỏi ở xứ người thì ở quê nhà trẻ phải là học sinh xuất sắc. Nếu không như thế trẻ sẽ bị áp lực từ nhiều phía đưa đến tự kỷ, co vào vỏ sò của mình, thậm chí tâm thần chỉ sau vài năm du học. Nặng hơn, hậu quả sẽ là như cháu Nguyễn Mạnh Cường mà bài báo đã đưa.

Ngôn ngữ: Không thể học tốt khi ngôn ngữ chưa trôi chảy, đây là điều tiên quyết cần và đủ phải có cho trẻ du học. Trẻ không thể hoạt bát và quan hệ tốt với cộng đồng mới khi ngôn ngữ mới của trẻ chỉ là chờ học ESL (English as a Second Language) hay phải bỏ thêm một năm để học ngôn ngữ nước du học. Kinh nghiệm cho thấy ngay cả chương trình ESL ở nước Mỹ hay Úc, Anh cũng không dạy tốt hơn ở Việt Nam. Một trẻ học tốt Anh văn ở Việt Nam rồi sang du học thẳng chương trình của dân bản xứ tốt hơn nhiều lần phải mất một thời gian học ESL ở xứ người. Sự thiếu trang bị ngôn ngữ trước khi du học là sai lầm lớn nhất đẩy trẻ vào mọi bất trắc khi đi du học. Hậu quả đó là kết quả của kỳ thị chủng tộc, ngại giao tiếp, sợ cộng đồng và stress kéo dài, học lực kém trở thành áp lực tâm lý thất vọng với kỳ vọng của bản thân và gia đình, bạn bè... sẽ đẩy trẻ vào bi kịch không xa. Đặc biệt, người Mỹ có Martin Lutherking với ông Obama làm tổng thống, nhưng đừng nghĩ họ quên đối xử phân biệt chủng tộc với dân đầu đen, mũi tẹt và mắt xếch!

Văn hóa: Mỗi một dân tộc có một lịch sử và văn hóa sống riêng và đặc thù. Người thành đạt là người biết ứng xử một cách có sự phù hợp với văn hóa sống của xã hội chứ không phải là kẻ thông minh hay cần cù. Một câu nói đã trở thành chân lý cho cuộc sống ngày nay mà các cha mẹ cần phải nhớ nằm lòng khi muốn cho con mình thành công trong mọi việc là: "IQ (Intelligence Quotient) làm người ta chọn bạn, nhưng EQ (Emotional Quotient: chỉ số cảm xúc) sẽ làm người ta đề bạt bạn"Để EQ tốt, trẻ phải hiểu biết văn hóa sống của nước trẻ phải đến du học. Vì văn hóa là phong tục, tập quán, thói ăn, nết ở của một dân tộc được hình thành qua lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc đó. Là cái mà học suốt đời cũng không hết. Một trẻ không hiểu biết văn hóa sống, pháp luật của xã hội mà trẻ sẽ hội nhập, đó là nguyên nhân cho mọi thất bại khi cần hội nhập với một nền văn hóa mới. Cultural Shock là từ đã trở thành thường qui cho tất cả các du học sinh trên toàn thế giới. Thất bại và dẫn đến mọi bi kịch từ những cú sốc văn hóa giao tiếp hằng ngày sẽ đánh quỵ trẻ bất cứ lúc nào. Đừng nghĩ rằng trẻ đã đi du học 5 năm rồi, nó quá quen với môi trường du học rồi là không cần quan tâm nó nữa. Các bạn và con các bạn sẽ thất bại đấy. Trước khi thả trẻ đến một nền văn hóa khác ăn học, bạn cần cho trẻ tiếp xúc với nền văn hóa ấy qua một vài cuộc du lịch hoặc tham quan, và giáo dục về văn hóa học cơ bản.

Giáo dục kỹ năng sống: Giáo dục phổ thông hiện đại là nền giáo dục trao cho trẻ một kiến thức tổng quát không cần quá cao và có chính trị xen vào như Việt Nam đang làm. Nền giáo dục phổ thông hiện đại là nền giáo dục phi chính trị, cung cấp cho trẻ một tư duy độc lập với một kiến thức tổng quát vừa phải, trên nền giáo dục kỹ năng sống một cách nhuần nhuyễn. Nên ở các nước có nền giáo dục tiên tiến luôn đặt giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lên hàng đầu. Những người thành đạt là người có nhiều kỹ năng sống phù hợp với thời đại. Cho nên trẻ du học cần trang bị kỹ năng sống thật đầy đủ. Muốn thế, ngay từ những ngày đầu trẻ học cấp lớp tiểu học cha mẹ phải cho trẻ tham gia vào nhiều những hoạt động cộng đồng, hoạt động liên quan đến thiên nhiên và cuộc sống xung quanh, nhằm cho trẻ hoạt bát, năng nổ và dễ thích ứng với môi trường, để trẻ dễ hòa nhập với một cộng đồng mới trong tương lai. Không thể hy vọng một trẻ được ấp ủ trong chăn êm, nệm ấm, nắng sợ đen, mưa sợ cảm lạnh có thể thành công mỹ mãn ở môi trường du học. Hãy biết trao nhiệm vụ và dạy cho trẻ biết chịu trách nhiệm với những hành động của trẻ ngay từ khi còn chập chững biết đi, bạn sẽ không bao giờ hối hận với những việc này. Một trẻ biết chịu trách nhiệm với hành động của mình, trẻ sẽ dư sức đương đầu với nghịch cảnh. Đừng sợ trẻ còn non nớt, cần nhìn trẻ là người lớn và trao trách nhiệm cho trẻ, để trẻ dạn dày khi còn ở trong vòng tay của bạn.

Tập cho trẻ biết sống tự lập: Ngay từ lúc nhỏ nằm nôi, bạn cần cho trẻ ngủ riêng. Không nên cho trẻ ngủ chung. Biết giao trách nhiệm cho trẻ những việc làm nhỏ hằng ngày, để trẻ tự giải quyết và chỉ giúp trẻ khi thật cần thiết. Hãy để hay gợi ý trẻ tự đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề mà trẻ tiếp xúc hằng ngày. Tập cho trẻ có thể ở nhà một mình và theo dõi trẻ một cách kín đáo những xử lý tình huống xảy ra quanh trẻ khi trẻ một mình và tham gia giúp đỡ khi cần. Tất cả những việc nhỏ này sẽ giúp trẻ đương đầu với nỗi cô đơn trong du học. Cái cô đơn ở xứ người lạnh lẻo, hiu quạnh mà chỉ có những người lớn đã từng trải qua mới thấu hiểu nó có tác động khủng khiếp thế nào với trái tim non nớt của trẻ mới chập chững vào đời. Alone Shock là cú sốc có thể đánh quỵ cả những cái đầu chai sạn của người lớn. Và con người ta sinh ra đời, phần lớn là để giải quyết sự hợp tan và nỗi cô đơn trong lòng. Đừng cho rằng trẻ đi du học là sung sướng mà là sự phấn đấu cam go dưới sự học hành nặng nhọc với nỗi cô đơn ngày đông giá rét, những cơn bệnh ập tới mà thiếu vòng tay che chở của người lớn và sự thấu hiểu an ủi cho nỗi cô đơn ở xứ người. 

Du học là học một nền văn hóa mới, học một cách tiếp cận mới với một xã hội mới chứ du học không chỉ là học những khoa học kỹ thuật mới. Du học là để nâng kỹ năng sống qua hiểu biết các nền văn hóa khác nhau để trở thành công dân thế giới, có thể sống và làm việc trong mọi môi trường, ngoài việc phải học khoa học kỹ thuật tiên tiến. Bạn không thể cho con bạn đi du học ở anh nhà giàu hàng xóm có nền văn hóa giông giống với văn hóa dân tộc mình. Cho nên du học là một việc lớn và nặng nhọc. Du học không phải là đi du lịch và kỳ vọng. Nên đã muốn cho con đi du học thì phải cho con đi du học có nền văn hóa khác biệt với nền văn hóa dân tộc mình và chuẩn bị cho con thật đầy đủ năm lĩnh vực tôi đã nói ở trên. "Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường sẽ bớt đi đổ máu". Bạn cần chuẩn bị con mình như một người lính trên thao trường khi trẻ còn nằm trong tay bạn, trước khi bạn thả con mình vào chiến trường khốc liệt của con đường du học. Hãy ghi nhớ rằng tiền sẽ không làm cho trẻ thành công trên con đường du học. Lúc ấy bạn sẽ không thất vọng và sẽ tự tin cùng đồng hành với bước đường con mình sẽ đi tới.
Hãy chuẩn bị cho con các bạn thật kỹ càng để biến ước mơ của bạn và của trẻ một cách vững vàng. Chúc các bạn thành công với những ước mơ cùng con cái, tương lai của gia đình và xã hội.

Asia Clinic, Ngày Độc Lập Hoa Kỳ, Chúa Nhật, 16h04' ngày 04/7/2010

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

KỶ NIỆM VỀ HÒAI THANH


Kỷ niệm 

VỀ HOÀI THANH  
                                                                                                       
            Năm 1957, tôi dược điều động về công tác tại Vụ Nghệ Thuật, Bộ VĂN  HÓA.
          Cầm tờ Quyết định trong tay, tôi hết sức vui mừng. Chưa biết sẽ được phân công làm gì, nhưng chắc chắn tôi sẽ được làm việc với giới văn nghệ sĩ . Nhưng điều khiến tôi hy vọng hơn cả là sẽ được gần gụi và học hỏi những nhà văn và nghệ sĩ mà từ lâu tôi đã ngưỡng mộ. 
    Vụ trưởng lúc ấy là Hoài Thanh, mà cuốn THI NHÂN VIỆT NAM của ông tôi học gần như thuộc lòng từ thời học trường Bưởi, và đã phục sát đất những lời nhận xét vừa tinh tế, chính xác vừa hóm hỉnh của ông. Khi rời khỏi Hà Nội năm 1946 không mang theo, lên đến Việt Bắc, tôi cứ ân hận mãi. Thế rồi một lần tình cờ nhìn thấy cuốn sách ở nhà một người quen, không xin được, tôi đã bỏ hẳn ra một tuần lễ chép lại toàn bộ ! Về đến đơn vị, tôi đem ra khoe và giới thiệu với đồng đội. Rất nhiều cán bộ, chiến sĩ của Đại đoàn 308 và cả một số học sinh mấy trường trung học ở Việt Bắc đã mượn cuốn sách của tôi để chép lại từng đoạn bình luận của tác giả kèm theo những bài thơ mà họ thích. Bản chép tay này tôi giữ cho đến năm 1954, khi về tiếp quản Hà Nội, mua được bản in tại một hiệu sách cũ, tôi mới quăng bản chép tay ấy đi. Bây giờ nghĩ lại thật dại dột.
Vụ phó bấy giờ là Lưu Trọng Lư, tác giả bài Tiếng Thu, bài thơ mà thuở thiếu niên tôi đã từng cho là những vần thơ hay nhất trên đời. Phải nói rằng, lúc đầu tôi mới thích âm điệu và những từ gợi cảm của nó, về sau, chính cuốn Thi nhân Việt Nam đã giúp tôi hiểu thêm, đồng thời biết thêm một số bài thơ tuyệt tác nữa của ông. Sau này, cuộc sống đã ban cho tôi điều may mắn bậc nhất trên đời của tôi là hai chúng tôi đã trở thành đôi bạn tâm tình, bất kể tuổi tác chênh lệch khá xa.
 Vụ phó thứ hai là Lưu Hữu Phước, tác giả những ca khúc kích động lòng yêu nước mà ở tuổi thiếu niên tôi suốt ngày hát. Chính vì muốn học hát những ca khúc tuyệt vời đó mà tôi đã kiên nhẫn học âm nhạc và chơi cây đàn măng-đô-lin đầu tiên. Trước cách mạng tháng Tám, tôi đã thuộc lòng hầu hết các ca khúc của ông, thậm chí đã tham gia ban đồng ca thiếu niên biểu diễn trên sân khấu Khai Trí Tiến Đức và Nhà hát Tây những bài Ai Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Hồn Tử Sĩ, Thiếu niên Việt Nam, Thiếu Nữ Việt Nam, vv.
*
 Đến Vụ Nghệ thuật, tôi được phân về bộ phận Nghiên cứu Sân khấu, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Lưu Trọng Lư. Tôi không quan hệ nhiều lắm với Hoài Thanh, và thật ra cũng không biết rõ cách phân công trong ban lãnh đạo Vụ như thế nào. Tuy nhiên tôi cảm thấy cả Lưu Trọng Lư và Lưu Hữu Phước đều rất kính trọng ông. Đối với tôi, Hoài Thanh có vẻ như xa cách. Lúc đó ông cùng gia đình ở ngay trong khu tập thể của cơ quan tại 23 Ngô Thời Nhiệm. Ngôi nhà này bấy giờ rất rộng, Qua chiếc cổng nhỏ, vào một giẫy nhà hai tầng và một sân lớn, có cổng thông ra một cái ngõ để ra phố. Khu nhà bên trong này về sau thuộc Nhà hát Tuổi trẻ, và cái ngõ trở thành lối vào cửa trước của Nhà hát. Hồi ngôi nhà còn là trú sở của Vụ Nghệ thuật, sân trong dùng để đỗ ô tô, và ngõ là lối để ô tô vào Xung quanh sân là khu dành cho gia đình cán bộ. 
Lúc ấy cơ quan vẫn còn giữ chế độ ở tập thể, ăn tập thể, sinh hoạt với nhau như trong một gia đình. Trong khu tập thể có gia đình Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lưu Hữu Phước, Lê Trang (bấy giờ cũng là vụ phó), Bửu Tiến, và một số cán bộ khác. Bọn cán bộ nhân viên chúng tôi lúc đó khoảng vài chục người, tất cả đều còn trẻ, hầu hết chưa có gia đình, ăn trong nhà ăn tập thể, ngủ trong phòng ngủ tập thể. Giải trí lúc đó không có gì, cho nên ngoài giờ làm việc chúng tôi ra sân trò chuyện cả về công việc lẫn mọi thứ chuyện công tư khác. Sau bữa ăn, chúng tôi ngồi lại với nhau trò chuyện rất lâu. Buổi tối và ngày Chủ Nhật cũng vậy.
Mấyi ông Lưu Trọng Lư, Lưu Hữu Phước, Bửu Tiến rất hay đến tham gia câu chuyện, riêng Hoài Thanh thì rất ít khi. Nếu có đến, ông chỉ nghe là chính. Tôi cảm thấy tính ông thận trọng, dường như lúc nào cũng đang đuổi theo một suy nghĩ nào đó. Bình thường trông ông có vẻ nghiêm, kiểu nghiêm của một nhà giáo, mỗi khi nói ra câu gì là đều đã suy nghĩ chín về nó. Thời gian đầu mới về cơ quan tôi rất sợ ông, nhưng sau vài lần tiếp xúc tôi nhận thấy ông không “nghiêm” như tôi tưởng, mà rất “tình đời”, rộng lượng với cấp dưới, và có lẽ với tất cả mọi người khác nữa.
                                                                   *
Mối quan hệ giữa tôi và Hoài Thanh chủ yếu là quan hệ giữa cán bộ và thủ trưởng. Tôi chỉ được gặp ông những hôm ông gọi tôi lên giao công tác, và lúc làm xong việc tôi báo cáo. Tuy nhiên, trong những dịp ấy, Hoài Thanh đôi khi mở rộng câu chuyện, hỏi chuyện riêng tư của tôi và trả lời những câu tôi hỏi, đồng thời khuyên bảo tôi một điều nào đó. Ông luôn có thái độ bình đẳng với cấp dưới, quan tâm đến tâm tư nguyện vọng từng người. Không bao giờ tôi thấy ông nói bằng thứ giọng “lên lớp” của nhiều cán bộ lãnh đạo khác tôi đã tiếp xúc trong thời gian phục vụ trong quân đội hay trong các cơ quan khác.
Một lần thấy tôi bộc lộ niềm băn khoăn là mở đầu một bài viết rất khó, ông nói đại ý như sau: 
Có lẽ đối với người viết nào cũng vậy, khó nhất là dòng đầu tiên. Kể một câu chuyện hay trình bầy một vấn đề, giây phút đầu tiên là khó nhất. Nên bắt đầu từ chỗ nào của câu truyện, từ ý nào ? Nhà văn Nhất Linh có kể kinh nghiệm của ông ta, là khi ngồi vào bàn, trước trang giấy trắng bong, trong lòng ông thường chưa có một ý gì. Khi đặt bút, ông ta viết ngay một câu chung chung, hầu như vô nghĩa, thí dụ “Trời xe lạnh, Lan choàng thêm tấm khăn lên đầu...” và thế là óc tưởng tượng được khởi động, cỗ xe cứ thế chạy, các ý tự chúng xuất hiện, và ông ta chỉ việc lái nó đi theo hướng ông ta muốn ...”
- Cách ấy có lẽ hay đấy, phải không, thưa anh ?
- Đấy là một cách, nhưng tôi không tin Nhất Linh chuyên sử dụng cách đó. Bởi nhiều tiểu thuyết của ông, rõ ràng là đã có dụng ý hẳn hoi ngay từ dòng đầu tiên.

- Vậy ông ta nói không đúng, ít nhất thì cũng không đúng với tất cả các tác phẩm của ông ta ?
Hoài Thanh cười:
- Đừng vội bảo ông ta nói không đúng sự thật. Tôi nghiệm thấy sáng tạo và lý luận là hai công việc khác hẳn nhau. Một đằng là thực hành, một đằng là lý thuyết. Nhiều nhà văn cỡ lớn khi nói lý thuyết, hoặc đúc kết kinh nghiệm bản thân đã phạm phải nhiều ngộ nhận. Họ tưởng họ theo một phương pháp nghệ thuật nào đó, thật ra sáng tác của họ lại theo một phương pháp khác. Cũng như có người đinh ninh mình rất duy vật, nhưng người bên ngoài lại thấy họ rất duy tâm... Mà nghệ sĩ lại là những người hay tự đánh giá sai về bản thân họ nhất, nhưng có lẽ chính vì vậy mà họ sáng tạo được. Tôi còn nghiệm thêm thấy một điều, là những nhà lý thuyết giỏi, phê bình sắc sảo,  thường lại sáng tạo rất tồi.
- Tại sao vậy, thưa anh ?

- Có lẽ vì óc phê phán của họ phát triển quá cao, đâm ra viết cái gì họ cũng tự phê phán họ trước. Họ quen thận trọng từng câu từng chữ, từng ý tưởng, đến mức không còn khả năng “tự buông thả”, phó mặc cho cảm xúc hồn nhiên, thứ không thể thiếu trong tư duy sáng tạo.
Tôi phản đối :
- Nhưng vẫn có nhiều người vừa sáng tác giỏi, vừa viết phê bình hay.

- Đúng thế. Nhưng lý luận và phê bình cũng lại là hai thứ khác nhau. Những người phê bình hay là những người sành về thưởng thức. Họ chính là nghệ sĩ, và tác phẩm của họ là những sáng tạo. Nhưng thôi, những vấn đề ấy hết sức tinh tế, khó có thể tách biệt nhau ra như vạch đường biên giới giữa hai quốc gia được.

Hoài Thanh dừng lại một chút, rồi nói tiếp:
- Trở lại vấn đề lúc nãy. Cùng trong Tự lực Văn đoàn, nhưng cách KHÁI HƯNG làm lại rất khác cách làm của NHẤT LINH. Khái Hưng bao giờ cũng bố cục sẵn thành một cốt chuyện hoàn chỉnh rồi mới đặt bút. Tất nhiên trong quá trình viết, ý định ban đầu có thể thay đổi, nhưng có lẽ không bao giờ ông ta đặt bút viết mà trong óc chưa có một cốt truyện hoàn chỉnh. Trong khi đó, Nhất Linh khi bắt đầu viết một tác phẩm thường chỉ mới có một cảm giác mơ hồ về nó. Hơi giống cách làm của Vũ Trọng Phụng, viết xong một đoạn mới nghĩ cách phát triển cho đoạn tiếp theo. Nhưng Vũ Trọng Phụng là một thiên tài, ông ta có một sức tưởng tượng vô song.

- Thưa anh, vậy là có hai kiểu nhà văn trái ngược nhau...

- Nhưng họ lại có rất nhiều nét chung, nhất là trong phương pháp làm việc, như tôi vừa nói.

- Vậy theo anh thì giải quyết cái khó khi viết dòng đầu tiên bằng cách nào?

- Đối với người nghệ sĩ thì mọi kinh nghiệm phải tự mình tìm ra. Như thế mới là “sáng tao”, kinh nghiệm của người khác có lẽ chỉ giúp ta tránh những dại dột, chứ không tạo thành kinh nghiệm cho ta được.
Thấy tôi im lặng buồn bã, ông động viên:
- Riêng tôi thì nghiệm thấy một điều. Hồi mới viết, tôi cũng gặp đúng khó khăn như cậu, nhưng khó khăn đó cứ giảm dần. Dòng đầu tiên tuy vẫn khó, nhưng không đến nỗi khó như xưa kia, khi còn non nớt nữa.

- Vậy anh đã làm thế nào ?

- Tôi biến việc viết thành như một thứ công việc hàng ngày. Khi đó, ngồi vào bàn, đặt thếp giấy trắng lên mặt bàn, cầm cây bút, và viết luôn dòng đầu tiên, ít khi phải loay hoay gì nhiều lắm.

- Công việc hàng ngày ? Cụ thể là thế nào ạ ?- Tôi hỏi.
- Ngày nào tôi cũng ngồi vào bàn viết, không nhiều thì ít. Cả những hôm người không được khoẻ, kể cả mồng một Tết... Khi đó viết thành một thói quen. Tôi cứ trải lên trang giấy mọi ý nghĩ của mình. Đối với tôi sửa chữa quan trọng hơn viết. Những hôm ý đã hiện lên rõ, lòng đã đủ hào hứng thì câu văn viết ra đã gần như hoàn chỉnh, chỉ phải sửa chữa rất ít. Còn nhiều hôm, ý trong đầu tản mạn, lờ mờ thì sau phải sửa nhiều, có khi phải bỏ đi hàng trang, thậm chí cả một câu truyện, một bài thuyết trình. Nhưng không sao, vẫn cứ phải viết, hàng ngày, không bỏ ngày nào.

- Hiện nay anh vẫn áp dụng cách đó ?
Hoài Thanh lại cười :
- Chỉ gần đây tôi mới khôi phục lại thói quen thuở trẻ tôi vừa kể với cậu. Mấy năm qua, do có nhiều công việc quan trọng hơn, tôi đã sao lãng việc viết. Tôi đang hy vọng rồi đây tôi có thể trở lại nghề : dạy học và viết nghiên cứu văn học. Nhưng tôi nghĩ nếu cậu thật sự muốn “viết” thì cố rèn cho được thói quen kia, và kiên trì gìn giữ..
Rất tiếc là tôi đã không thực hiện được lời khuyên này. Nghề đạo diễn sân khấu đã chiếm lĩnh hầu như toàn bộ thời gian. Công việc viết văn tôi chỉ có thể làm vào những thời gian rảnh rỗi giữa hai đợt dàn dựng tiết mục.
                                                      *
Một lần, dịch xong một truyện ngắn của nhà văn Liên Xô Antonov, tôi đưa ông Lưu Trọng Lư  đọc. Thế nào ông Lư lại đưa Hoài Thanh. Và một buổi tổí, tôi ngồi trong phòng riêng đang làm việc thì Hoài Thanh vào. Đó là lần đầu tiên ông xuống phòng tôi. Bước vào, ông chìa ngay bản dịch, nói :
- Cậu dịch được đấy. Câu truyện hay. Tác giả viết rất giỏi. Qua bản dịch này, tôi thấy mến cậu hơn. Không phải vì cậu dịch hay mà vì cậu đã chọn truyện ngắn này. Tôi thấy cậu thích những khám phá về tâm lý, và cậu yêu câu chuyện này thật sự. Cậu thích đồng cảm với con người, không nhìn con người theo cách hời hợt, bề ngoài... Cậu có được một thứ rất đáng quý đối với người viết, là thế thái nhân tình. Nếu chịu khó, cậu có thể thành một cây bút văn xuôi sâu sắc và nhân hậu đấy.
Tôi thấy trong người lạnh đi vì sung sướng, nhưng không dám để lộ ra, chỉ nói :
- Em sẽ cố gắng... Nhưng còn bản dịch, anh thấy thế nào ạ ?

- Cậu dịch tương đối thoát, nhưng vẫn còn quá câu nệ câu chữ của nguyên tác. Đó là tật chung của những học sinh chăm chỉ, giỏi môn ngoại ngữ ở nhà trường. Theo tôi, dịch là truyền đạt hình ảnh và ý tưởng, chứ không phải nghĩa của từng chữ, từng câu. Nhưng nhân đây, vì thấy cậu thích viết, nên tôi khuyên cậu một câu. Cậu đừng nên biến thành một “dịch giả”. Chỉ khi đọc thấy tác phẩm nào của nước ngoài mà cậu thích lăm lắm, hãy dịch, và cố giữ tỷ lệ dịch và viết không vượt quá...
Thấy ông trầm ngâm, tôi sốt ruột nhắc:
- Quá bao nhiêu phần trăm ạ, thưa anh ?

- Quá một phần...- ông cân nhắc - tư, à không, một phần mười. Mà nếu hoàn toàn không dịch được thì tốt.

- Tại sao vậy, thưa anh ?
Hoài Thanh cười :
- Tôi vẫn cứ băn khoăn, không dám chắc mình nghĩ thế này có đúng không. Người sáng tạo phải là người tự tin, tự tin ghê gớm lắm, thậm chí tự tin đến mức dám coi thường mọi lời khen chê. Trừ phi người khen chê đó là người thật sự tri âm. Và phải không phục nhà văn nào đến mức tuyệt đối. Tất nhiên khi còn non nớt, chúng ta dễ quá phục một cây bút nào đó, đến mức cứ viết thứ gì ra là như thể bắt chước văn ông ta. Khi đó anh chưa phải nhà văn. Anh chỉ thật sự là nhà văn khi anh không cần ai dắt tay nữa. Vậy mà khi dịch, chúng ta dễ bị lệ thuộc vào tác giả nguyên tác, dần dần chúng ta mất đi lòng tự tin, khả năng tư duy độc lập cần thiết cho sáng tạo. Trong số những người dịch nhưng vẫn là nhà văn, tôi thấy có Nguyễn Văn Vĩnh với những bộ BA NGƯỜI NGỰ LÂM PHÁO THỦ, NHỮNG KẺ KHỐN NẠN, và một loạt bản dịch khác nữa, Ngoài ra là ông Nhượng Tống với bản dịch MÁI TÂY, Ngô Tất Tố với bản dịch HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHÍ...  Nhưng họ vốn là nhà văn có bản lĩnh. Còn cậu, viết chưa chắc tay, chưa có đủ lòng tự tin, chưa có thói quen tư duy độc lập, khoan hãy dịch, mà viết đi đã.
Rất tiếc lời khuyên thứ hai này tôi cũng không thực hiện được, và do nhiều lúc cần kiếm tiền để nuôi gia đình, tôi đã dịch và trở thành một “dịch giả” lúc nào không biết. Tuy nhiên, tôi đã cố khắc phục những tác hại của nghề dịch mà Hoài Thanh đã cảnh giác tôi. 
                                             *
Đầu năm 1959, sau một buổi nghe tôi báo cáo công việc, đột nhiên Hoài Thanh hỏi tôi:
- Nghe nói cậu đang có chuyện gì buồn phải không ?
Tôi đang ngơ ngác thì ông cười nói luôn, cặp mắt nheo lại rất thân tình, khiến tôi cảm thấy ông không còn là thủ trưởng nữa mà là người anh, người cha:
- Tôi nghe loáng thoáng là cậu đang thất tình ?
Tôi cười, quả có chuyện ấy. Thật ra chuyện chẳng có gì mấy. Sau một thời gian tìm hiểu với một nữ diễn viên của Đoàn Kịch nói, hai chúng tôi thấy không hợp nhau, nên đã chia tay nhau.
Hoài Thanh cười độ lượng, nói:
- Năm ngoái hình như cậu chưa nghỉ phép nhỉ ? Kỳ này cho cậu nghỉ hai phép liền. Tôi khuyên cậu nên dùng những ngày nghỉ phép đi chơi một chuyến. Tôi sẽ bảo Phòng hành chính cấp Công lệnh và Giấy giới thiệu để cậu đi đường thuận lợi. Vì thật ra, văn nghệ sĩ rất cần “ngao du” để hiểu sâu thêm cuộc sống. Cậu có hướng đi đâu chưa ?

- Thưa anh, chưa ạ.

- Vậy tôi mách cậu một hướng đi. Cậu chưa vào miền Trung bao giờ phải không  nhỉ?

- Hồi kháng chiến, ở bộ đội, em có lần đóng quân ở Thanh Hoá...

- Nhưng chưa vào đến Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh, đúng không nào?

- Vâng,

- Vậy lần này, tôi khuyên cậu ngao du một chuyến vào đó. Thú nhất là làm thế này. Cậu đến  Sầm Sơn, rồi cứ men theo ven biển mà đi cho đến Cửa Tùng, thích chỗ nào thì dừng lại. Bãi tắm nào đẹp thì xuống bơi, làng chài nào lý thú thì ở lại vài ngày, ra biển với họ, nếm thử kiểu sống trên thuyền của dân chài. Xong lại đi tiếp. Cứ ven biển mà đi. Hình như hồi ở 308 cậu làm trinh sát phải không ?

- Vâng ạ.

- Vậy thì càng hay. Cậu nên đem theo xe đạp cho cơ động. Chỗ nào không đạp xe được thì vác. Năm nay cậu bao nhiêu tuổi nhỉ?

- Thưa anh, tháng Mười một vừa rồi em tròn 25.

- Cái tuổi tuyệt vời ! Nên tranh thủ lúc tuổi còn trẻ, sức còn khoẻ, lại chưa vướng víu gì. Hãy đi cho thật nhiều vào. Chứ đến lúc như tôi thì đi đâu cũng kích dích lắm.
                                                *
Tôi theo đúng lời ông khuyên. Tôi đáp xe lửa đến Thanh Hoá, đạp xe ra Sầm Sơn, rồi bắt đầu lần theo bờ biển, mỗi nơi dừng lại một buổi hoặc hai. Riêng những bãi biển đẹp như Cửa Lò, Cửa Hội tôi dừng lại hẳn bốn năm ngày. Gần hai tháng sau, tôi đến bãi biển Cửa Tùng. Bấy giờ việc ra đó chưa có quy chế nghiêm ngặt như sau này. Trong chuyến đi tôi đã được nếm mùi say sóng, hưởng những bữa ăn cá trừ cơm, được tham dự và do đấy, thấy cuộc sống thật sự của người dân làng chài.
  Đấy là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi được đi một chuyến “ngao du” thú vị đến như thế, và tôi hết sức biết ơn Hoài Thanh. Đến mỗi nơi, tôi đều gửi thư về Vụ báo cáo để giữ liên lạc. 
                                             *
Đầu tháng Tư đến Cửa Tùng, tôi ghé vào Uỷ ban Vĩnh Linh thì nhận được điện gọi tôi cấp tốc về cơ quan. Tôi vội lên xe ca về Hà Nội. Sau đấy một tháng, tôi lên đường sang Liên Xô công tác.
 Đầu năm 1960, hết đợt công tác, tôi về Hà Nội thì Vụ Nghệ thuật đã tách ra làm hai: Vụ Sân khấu và Vụ Âm nhạc Múa. Hoài Thanh đã sang cơ quan khác. Bản thân tôi thì sau đấy sang tiếp Liên Xô, theo học khoa đạo diễn trường Đại học Sân khấu ở Moskva, bước hẳn vào nghề đạo diễn sân khấu. Từ đó chỉ thỉnh thoảng tôi mới được gặp Hoài Thanh, nhưng không có dịp nào được trò chuyện nhiều với ông nữa.
1998

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2016

HAI ÔNG GIÀ- VỀ GORKI







NGHE LỎM HAI ÔNG GIÀ  
về GORKI

            - Hôm qua tôi bỗng nhiên bắt gặp trên mạng một cuốn sách hết sức lý thú, đáp ứng đúng điều tôi đang băn khoăn, hình như cũng là vấn đề Cụ băn khoăn…


            - Và cuốn sách ấy đã giải đáp cho cái điều hai lão “khọm” chúng mình băn khoăn ấy ? Chà, hay đấy !  Tên cuốn ấy là gì ?


            - Tên rất đặc biệt : “Liệu có ông Gorki hay không”, nguyên văn tiếng Nga là “Был ли Горький ?” còn có thể dịch là “Có cái nỗi cay đắng ấy hay không ?” Vì hẳn Cụ biết rồi đấy, gorki tiếng Nga có nghĩa “cay đắng” hay “chua chát”. Cái tên ấy ông ta tự chọn và dùng làm bút danh… Tên sách “Был ли Горький ?” cũng có thể dịch là “Phải chăng đã có một nỗi cay đắng ?…Tôi mừng quá, bèn đọc luôn, thì thấy nhiều chuyện rất lạ và làm tôi sáng tỏ. Cụ cũng đọc được tiếng Nga thì thử đọc một cái, sẽ biết thêm nhiều điều lý thú. Tiếc rằng tôi quên mất đường link, nhưng tôi nghĩ cụ gõ GORKI MAXIM trong GOOGLE có thể ra đấy. Chà, một cuốn sách tuyệt vời. Tôi cam đoan Cụ mà tìm được và đọc thì sách cuốn hút đến mức không thể rời ra được. Tôi có download một số đoạn quan trọng. Cụ muốn ngó qua thì quá bộ đến tôi.


            - Để tôi cố tìm trên Internet đã. Nếu không thấy thì mới phải phiền đến Cụ.


            - Ra bây giờ tôi mới hiểu tại sao ông nhà văn tuyệt đỉnh ấy đang sống yên ổn và viết ở Italia thành công và được hâm mộ đến như thế, mà lại bằng lòng trở về Nga và sau đấy lại ủng hộ STALIN và chế độ độc tài đẫm máu của hắn ta đến mức khó hiểu. Thì ra ông già bị nhầm, Cụ ạ ! Dần dần khi Gorki bắt đầu hơi hiểu ra thì bị an ninh mật của Stalin thủ tiêu ngay bằng một liều thuốc độc.


            - Gorki chết vì bị đầu độc ?


            - Sau này, khi Stalin đã chết, Khrusov lên thay, nghe loáng thoàng thấy những hành xử tàn ác của vị tiền nhiệm “vĩ đại” bèn thử cho điều tra. Thì bộc lộ ra rất nhiều tội ác của ông ta, và một nhân viên an ninh mật khai đã được lệnh đầu độc hai cha con nhà văn hào và đã thực hiện.

            - Cả ông con nữa ? Chà ! Quá bất ngờ đối với tôi đấy, Cụ ạ.


            - Cụ ngờ được không, ông con trai thật ra là người được cơ quan an ninh tuyển mộ, được giao nhiệm vụ sang Italia sống bên cạnh bố để vừa bám sát điều tra, vừa lái ông cụ đi theo hướng lãnh tụ Stalin đề ra. Nhưng toàn bộ cuốn sách được viết bởi một nhà nghiên cứu có lương tâm đồng thời có trình độ nhận xét rất tinh tế. Thì ra Gorki không như chúng ta hiểu.


            - Không phải nhà văn vĩ đại  ?


            - Ông ấy vĩ đại thì đúng, nhưng cuốn sách truy ra được nguyên nhân tại sao Gorki bị Stalin thôi miên và một thời gian dài đã cúc cung ca ngợi lão ta đến thế.


            - Tại sao ?


            - Gorki đúng là một nhà văn thiên tài. Chỉ có điều ông ấy nhận định sai lầm một số điểm…


            - Thí dụ ?


                        - Chà, vấn đề vô cùng phức tạp. Chẳng thế cuốn sách lại có tên là “Có cái nỗi cay đắng ấy không ?” Qua cuốn sách tôi mới hiểu thêm nhiều điều về con người Gorki và hiểu được tại sao tầng lớp trí thức lại nhiều người, tương tự như Gorki, đã bị cái lý thuyết nguy hiểm kia cuốn hút, đã tin tưởng đi theo để cuối cùng, đến khi nhìn ra thì liền  bị giam vào trại tập trung, rồi chết trong công trường xây dựng đường xe điện ngầm ở Moskva ! 


                        - Hoặc trên công trường xây dựng kênh Vonga- Don !


                        - Đúng thế. Để xây dựng những "công trình thế kỷ” ấy Stalin ra lệnh sử dụng tù nhân, kể cả tù chính trị, và hàng chục vạn người đã chết vì vất vả, đói khát trên ấy. Trong số ấy có nhiều nhà văn, nghệ sĩ, nhà khoa học…


\                       - Đúng thế. Và cuốn sách này nói về một trí thức Nga, tiêu biểu cho tầng lớp “thầy giáo làng” Nga.

                        - “Thầy giáo làng” ?


                        - Đúng thế. Chẳng là vào thời ấy, tức là những năm bản lề của thế kỷ 19 và 20, không khí nước Nga ảm đạm khủng khiếp. Cuộc sống của con người, trước hết là công chức và cả trí thức, bế tắc, nhạt nhẽo, vô vị đến phát sợ. Chắc Cụ đã đọc Sêkhov, thấy những con người bế tắc đến mức nào rồi ? Các nhân vật trong tác phẩm của Gorki cũng nhạt nhẽo, vô vị như thế. Họ chán chường, kéo lê cuộc sống một cách uể oải. Gorki phản ánh và phê phán kiểu sống ấy, và ông ta đã băn khoăn : “Sống giống như mọi người thì vô vị, mà sống khác đi thì thật khó”. Ông ta bỏ sang Italia sống và viết. Ông ta viết thành công đến mức mấy lần được đưa vào danh sách xem xét giải Nobel Văn chương. Thế rồi ông ta gặp chủ nghĩa Mác, thấy ra giá trị tuyệt vời của cái chủ nghĩa ấy. Xây dựng Một thiên đường mà lại không có Thượng Đế (Chúa) ! Và một xã hội sẽ tạo nên những con người lý tưởng : lành mạnh, dũng cảm, thương yêu nhau, ai cũng có trách nhiệm đối với người khác và với toàn xã hội. Stalin biết tâm trạng ấy và nhân đang cần một “lá cờ” cho phong trào văn học nghệ thuật xô-viết bèn tiến hành một chộc vận động quy mô lôi kéo Gorki về nước. Thằng con trai, đã là người của cơ quan an ninh, sang gặp bố và khéo léo thúc đẩy quá trình ấy. Để thực hiện mưu đồ thuyết phục nhà văn, Stalin ra lệnh hàng vạn nhà máy, nông trường và vô số nhà hoạt động nổi tiếng phải viết hàng chục vạn lá thư tỏ niềm thán phục và khẩn khoản mời ông về với Tổ quốc,với đồng bào. Rồi tất cả các thành phố đều được lệnh “phải có một phố loại lớn nhất đổi tên là "phố mang tên Maxim Gorki". Thế là Gorki cảm động, quyết định về. Ông xúc động trước tình cảm tha thiết của đồng báo trong nước, nhưng còn một nguyên nhân nữa khiến ông quyết định “về” là ông tin rằng tiếp cận tận mắt thực tế “xây dựng con người mới” ở Nga, ông sẽ thu thập dược nhiều chất liệu quý, sẽ có thực tế “hiển hiện ngay trước mắt” để viết về quá trình xây dựng một nước Nga mới, công bằng, bác ái, mọi người thương yêu lẫn nhau, cái quá trình mà ông biết hết sức khó khăn, nhưng cũng hết sức phong phú. Gorki tính nếu về nước, ông sẽ viết về họ, về sự chuyển biến tuyệt diệu, tất nhiên cuộc chuyển biến ấy hết sức gian nan nhưng tuyệt đối cần thiết, nếu muốn xây dựng một nước Nga “mới” thì cần phải có những “con người mới” ấy. Ông cảm động vô cùng khi được đón tiếp hết sức long trọng và nồng nhiệt tại ga xe lửa đầu tiên trên đất xô-viết… Ông vốn nhiễm tâm lý phổ biến của đại đa số dân thường nước Nga : thán phục những ai đúng là “kẻ mạnh”, hoặc ta tạm dịch là “dũng mãnh” hoặc “ngươi hùng”, và ông thấy Stalin đúng là con người như thế : dám làm mọi thứ để “cải tạo đất nước và con người Nga”.


                        - Cũng vì cái  tâm lý phổ biến ấy của dân thường Nga mà ngày nay họ sùng bái Putin. Bởi ông ta đúng là “người hùng”. Chà, tôi cũng võ vẽ tiếng Nga nên cũng hiểu nghĩa cái từ "cilnii" kia. Bởi Putin đúng là con người hùng lý tưởng. Làm chính trị giỏi, chỉ huy quân đội giỏi, lại giỏi cả các môn thể thao, nghệ thuật, kể cả múa hát… Cụ đã xem ông ta tham dự cuộc thi “TÀI NĂNG TRẺ ” trên sân khấu, trước Hội đồng Giám khảo và hàng chục máy quay phim chưa ? Tôi thì thấy đấy là trò hề nhưng dân Nga chất phác lại tin sái cổ. Họ tin Putin xứng đáng là “người hùng thời nay”. Một mình dám đương đầu với cả thế giới Phương Tây đang bao vây và đố kỵ nước Nga…

                        - Cụ nói đúng. Dân Nga phục và mê hắn ta đến mức sùng bái. Vì Putin chính là “người hùng” trong mơ ước của dân thường nước Nga. Thêm vào đấy là hệ thống truyền hình do Putin điều khiển và giám sát chặt chẽ. Nhưng xin Cụ cho phép ta quay lại câu chuyện chính. Vào thời điểm ấy triết gia Nietzsche bắt đầu nổi danh và trong lý thuyết ông này cũng lại có câu đại ý nói, nếu cứ để tự nhiên thì con người vốn bạc nhược sẽ chỉ bạc nhược, cho nên mỗi người phải tự rèn hoặc “bị rèn”, và rèn một cách quyết liệt, mới có cơ thành sắt thép, thành con người xứng đáng, đúng nghĩa là “Con Người” chữ hoa. Cho nên mấy chục năm đầu sống trong nước, Gorki chăm chỉ đến các trại giam tù nhân để tham quan và chứng kiến những trại cải tạo mà ông cho là những "lò rèn" nghiệt ngã nhưng hết sức cần thiết, biến “phế phẩm” thành sản phẩm mẫu mực. Khi nghe thấy tù nhân, cả các trẻ vị thành niên, do phạm pháp bị giam, gào lên từ phía sau trại giam : “Ông cứu chúng cháu với !” hoặc “Ông nhà văn vĩ đại ! Cứu chúng tôi với”… Gorki rất thương nhưng nghĩ, đây là “lò rèn”, phải dùng cách này và chỉ dùng cách này mới biến được những kẻ kém phẩm chất thành những con người chân chính, biến phế phẩm thành sản phẩm mẫu mực… Gorki tán thành và lên tiếng bênh vực các biện pháp cực kỳ tàn bạo của Stalin và tin rằng Stalin làm thế là đúng, là cần thiết, để cải tạo tận gốc con người Nga và xã hội Nga thành những con người mới, có thế mới xây dựng được một xã hội mới lý tưởng… Nhiều nhà văn, bạn cũ của ông đang bị giam oan uổng, viết thư năn nỉ ông bênh vực, nhưng Gorki không làm gì để giảm nhẹ số phận của họ. Nhiều người trách Gorki quá hèn, là chỉ nhìn bề ngoài mà không biết suy nghĩ bên trong của ông. 


                        - Xin phép Cụ, ta rẽ ngang một cái. Tôi thì còn biết ơn Gorki ở một việc. Nghe nói khi Stalin đề ra việc phong “danh hiệu” cho văn nghệ sĩ, Gorki thấy "thối" nhưng không bác bỏ được, ông đành chỉ đề nghị riêng giới nhà văn thì xin miễn. Stalin mới đầu không hiểu, hỏi tại sao, thì Gorki trả lời, các nghsixc khác thì  có thđược đánh giá qua những thành tt]ụ hđã đạt được, nhưng với nhà văn thì không thể. Nhà văn có đặc điểm là khó ai biết trước được giá trị đích thực của họ. Một nhà văn trẻ, bình thường đột nhiên cho ra một tác phẩm thiên tài chẳng hạn. Nếu chỉ căn cứ vào thành tích trong quá khứ thì không đủ. Nhờ thế đám nhà văn chúng tôi thoát được các danh hiệu “nhân dân” hoặc “ưu tú” dớ dẩn và bịp bợm kia ! Tôi xin lỗi đã lạc dòng, xin Cụ tiếp tục câu chuyện tuyệt vời về Gorki đi.


                        - Phải đến mãi sau, Gorki mới dần dần nhận ra đôi chút và khi ấy, thằng con báo cáo cơ quan an ninh, thế là nó bị thủ tiêu để bịt đầu mối, và năm sau thì đến lượt ông bố …


            - Chà ! Câu chuyện đáng suy nghĩ, về nguyên nhân tại sao nhiều người tốt vẫn bị cái chủ nghĩa ấy quyến rũ.


            - Thôi, cũng muộn rồi. Câu chuyện dở dang, mai gặp nhau ta trò chuyện phiếm tiếp, Cụ nhé ?